Hôm nay0
Tháng này3506
Năm này36602
Mùa mưa năm 2025, tình hình thời tiết tiếp tục diễn biến phức tạp; lượng mưa lớn, kéo dài nhiều ngày liên tục làm đất bão hòa nước, gây ngập úng cục bộ và gia tăng ẩm độ đất. Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây sầu riêng. Điều kiện đất ẩm ướt, bí chặt, thiếu oxy và tích tụ khí CO2 trong vùng rễ khiến rễ cây bị ngộ độc, lông hút thoái hóa, rễ tơ thối đen. Đồng thời, môi trường này tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm nấm bệnh như Phytophthora, Pythium, Fusarium, Rhizoctonia phát sinh gây hại mạnh, dẫn đến hiện tượng cây sầu riêng bị thối rễ, vàng lá, rụng lá; giảm sinh trưởng, chậm ra đọt; bị nặng có thể gây chết cây trong thời gian ngắn. Nhằm hỗ trợ nông dân chủ động phòng ngừa và xử lý kịp thời các bệnh xì mủ, vàng lá thối rễ và mọt đục thân, cành gây hại sầu riêng, Trạm Kỹ thuật nông nghiệp khu vực Đạ Hoai ban hành hưởng dẫn kỹ thuật thực hiện như sau:
I. Triệu chứng, điều kiện gây hại:
1. Triệu chứng gây hại:
- Bệnh xì mủ thối gốc: Do nấm Phytophthora palmivora gây hại.
Bệnh gây hại ở tất cả các giai đoạn và ở tất cả các bộ phận của cây sầu riêng (rễ, thân, lá và trái). Rễ bị hại làm cho rễ non bị thối và có màu nâu đen, sau đó lây sang rễ lớn làm rễ chết dần, bộ lá chuyển màu vàng, cây không phát triển và chết dần. Trên thân bị hại có dấu hiệu chảy nhựa ra trên bề mặt vỏ cây, vết bệnh ướt và nhựa có màu nâu. Khi bị nặng, vết bệnh sẽ phát triển xung quanh thân chính và cành làm cho cây không vận chuyển được dinh dưỡng, bộ lá vàng úa và cây chết. Trên lá vết bệnh đầu tiên là những đốm đen nâu trên mặt lá và lan rất nhanh, 2 ngày sau lây sang lá kế cận và biến thành màu nâu như màu nước đường chảy, lá khô dần và sẽ rụng sau 3 ngày. Trên trái vết bệnh khởi đầu là một vài chấm nhỏ màu nâu đen sau đó phát triển thành hình tròn hay loang lỗ và có màu nâu trên vỏ trái. Khi trái già vết bệnh nứt ra và phần thịt bên trong bị thối, có rất nhiều sợi nấm mầu trắng.
Bệnh vàng lá thối rễ: Do tổ hợp nấm Phytophthora palmivora, Fusarium, Pythium, Rhizoctonia gây hại, trong đó nấm Phytophthora palmivora là chủ yếu.
Bệnh nhẹ cây ra đọt non chậm, hoặc không ra đọt non, lá hơi bị vàng, chóp lá bị cháy. Khi bệnh nặng cả cây bị vàng lá và rụng nhiều, cây còi cọc, các nhánh non đầu cành bị rụng hết lá và chết khô đầu cành. Trên rễ, khi xới lớp đất mặt sẽ thấy phần rễ nhỏ bị thối có màu nâu, vỏ rễ bị tuột ra, rễ lớn thâm đen hoặc thối ngang cổ rễ, mất khả năng hấp thụ nước và dinh dưỡng nuôi cây, cây trở nên còi cọc, lá rủ xuống, rụng lá có khả năng chết cả cây.
2. Điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển:
Cả hai bệnh xì mủ và vàng lá thối rễ phát triển mạnh khi gặp các điều kiện bất lợi cho cây, bao gồm:
- Vườn ngập úng, thoát nước kém: Mưa dầm kéo dài (>7 ngày) khiến đất ngập nước, rễ thiếu ôxy, chất độc tích tụ. Rễ cây yếu, dễ bị nấm xâm nhập và lây lan. Tuyến trùng gây vết thương càng tạo điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển.
- Đất trồng thiếu phân hữu cơ, bón phân và phun thuốc hóa học trong thời gian dài làm đất bị chua, bí chặt, ít vi sinh vật có lợi, pH thấp <5 là điều kiện thuận lợi cho nấm bệnh phát triển.
- Kích thích sinh trưởng nhiều lần/vụ, sử dụng phân bón có chứa hàm lượng đạm (N) cao, làm giảm sức đề kháng tự nhiên của cây, cây dễ nhiễm bệnh.
Sử dụng phân hữu cơ chưa hoai mục, chất lượng kém, gặp thời tiết mưa dầm nhiều ngày làm vi sinh vật bất lợi hoạt động mạnh, tiêu hao nhiều oxy trong đất, ảnh hưởng hô hấp của bộ rễ làm rễ bị thối đen, chết dần, gây vàng lá cục bộ.
II. Biện pháp phòng trừ:
Bệnh xì mủ, vàng lá thối rễ tác nhân gây hại chính là nấm Phytophthora palmivora. Để nâng cao hiệu quả phòng trừ, cần áp dụng tổng hợp các biện pháp:
1. Biện pháp canh tác:
- Phải đào mương thoát nước, giúp nước thoát ra ngoài nhanh nhất để hạn chế nấm bệnh (kể cả vườn đất bằng và đất đồi). Tiến hành đào 1 mương giữa 2 hàng cây hoặc các mương thoát nước cách nhau từ 10-12m, khoảng cách giữa hai mương sâu nên đào thêm rãnh cạn hơn để dễ thoát nước khi mưa nhiều. Thường xuyên kiểm tra, khơi rãnh thoát nước cho các cây bị úng nước cục bộ.
- Đối với các vườn bị váng đất (đất bí chặt): Dùng cuốc răng cào, xới nhẹ lớp đóng váng trên bề mặt đất, dưới tán lá vùng rễ cây để phá váng (xới sâu 5-15cm, không đào sâu, ảnh hưởng đến rễ) tạo thoáng khí cho lớp đất quanh tán lá. Đối với cây lớn 8-10 năm tuổi, xới cách gốc 1m -1,5m, xới đều trên bề mặt tán lá. Tùy theo cây lớn hay nhỏ để điều chỉnh khoảng cách cho phù hợp.
- Áp dụng các biện pháp chăm sóc theo đúng quy trình kỹ thuật, bón phân NKP cân đối, hợp lý (không bón thừa đạm).
- Thường xuyên tỉa cành tạo tán, vệ sinh vườn giúp vườn luôn thông thoáng, sạch sẽ. Các vườn để cỏ cần phát cỏ định kỳ, phù hợp với từng thời điểm mùa vụ, thời tiết... Chú trọng khâu vệ sinh vườn, thu gom cành nhánh, quả, lá rụng ra khỏi vườn để tiêu huỷ (không chất đống tại vườn - là nơi phát tán mầm bệnh).
Rải vôi xung quanh tán cây và quét lên gốc cây phạm vi 0,5-1m từ mặt đất làm bất hoạt bào tử nấm và làm trứng bọ cánh cứng không nở, gây hại (dùng dung dịch với đậm đặc quét lên thân chính vào cuối mùa nắng hoặc đầu mùa mưa).
2. Biện pháp sinh học:
Tăng cường sử dụng các sản phẩm hữu cơ, phân vi sinh, phân xanh, rơm khô, cỏ khô, phân hữu cơ đã hoai mục kết hợp nấm vi sinh vật đối kháng như Trichoderma (Tricô-ĐHCT)... Nấm cộng sinh RhyZomy, Myco”s one, Streptomyces, Bacillus (Velox, Bio gold)... để cân bằng vi sinh vật đất, nhằm diệt các loài nấm gây bệnh và tăng sức đề kháng cho cây.
3. Biện pháp hóa học:
3.1 Thực hiện phòng bệnh 4 đợt/năm (mỗi đợt cách nhau 3 tháng).
* Thời điểm xử lý: Đợt 1, tháng 5-6 (sau thu hoạch); đợt 2, tháng 8-9 (giữa mùa mưa); đợt 3, tháng 11-12 (xử lý ra hoa) và đợt 4, tháng 3-4 (trái 60 ngày tuổi).
* Loại thuốc, cách thực hiện (các đợt làm giống nhau):
Phun thuốc col hoạt chất Metalaxyl-M + Mancozeb (Ridomil Gold 68 WG) + Phosphorous acid (Agri- Fos 400) hoặc Fosetyl Aluminium (Aliette 800WG) + Phosphorous acid (Agri- Fos 400) pha theo khuyến cáo trên bao bì sản phẩm, phun ướt đều thân, lá và các nách cành (phun vào sáng sớm hay chiều mát).
- Tưới gốc (thực hiện sau khi phun thuốc 2-5 ngày): Sử dụng thuốc có hoạt chất Fosetyl Aluminium (Aliette 800WG) theo khuyến cáo trên bao bì sản phẩm tưới ướt gốc và toàn bộ vùng rễ. Đường kính tán 4-5m tưới 30 lít hỗn hợp thuốc đã pha/gốc; đường kính tán từ 6-7m tưới 40-50 lít hỗn hợp thuốc đã pha/gốc.
Sử dụng thêm các thuốc có hoạt chất: Tebuconazole (Tebuzol 250EC), Propineb (Antracol 70WP), Cuprous Oxide (Norshield, Champion 77WP), Copper Oxychloride (Coc 85 WP), Tebuconazole+ Trifloxystrobin (Nativo 75 WG)... phun phòng bệnh thán thư, các loài vi khuẩn, rêu xanh, tảo đỏ. Thay đổi luân phiên gốc thuốc. Ngoài ra, có thể áp dụng phương pháp tiêm thân (thay thế phun): Sử dụng thuốc tiêm có hoạt chất Phosphorous acid (Agri- Fos 400). Đối với cây lớn (đường kính thân >15 cm) tiêm phòng 4 lần/năm, tiêm 2-3 mũi/cây/lần tùy cây lớn, nhỏ. Pha thuốc tỷ lệ 1:1 (10 ml thuốc + 10 ml nước sạch) sau đó hút bằng ống tiêm vặn vào lỗ đã khoan, xả van tiêm, tiêm vào sáng sớm để nâng cao hiệu quả.
3.2 Điều trị bệnh:
Thường xuyên kiểm tra vườn, phát hiện bệnh kịp thời, chủ động điều trị bệnh sớm thì khả năng phục hồi cao. Tùy vào tình trạng, vị trí gây hại của bệnh mà áp dụng biện pháp điều trị phù hợp:
- Bệnh hại trên thân, cành, lá: Khi thấy vết chảy nhựa xuất hiện, dùng dao cạo bỏ hết phần mô bị thối nâu (khi cạo phải lót bao dưới gốc để thu gom phần vỏ bị bệnh mang đi tiêu hủy) rồi sử dụng hỗn hợp thuốc có hoạt chất Metalaxyl-M+ Mancozeb (Ridomil Gold 68 WG) pha theo khuyến cáo trên bao bì sản phẩm và dùng cọ bôi lên vết bệnh 1-3 lần đến khi vết bệnh khô hẳn. Kết hợp phun thuốc định kỳ 15 ngày/lần trong thời gian bệnh gây hại bằng cách sử dụng hỗn hợp thuốc chứa hoạt chất Metalaxyl-M + Mancozeb (Ridomil Gold 68 WG) + Phosphorous acid (Agri-Fos 400) theo khuyến cáo trên bao bì sản phẩm phun ướt toàn bộ cây.
- Đối với bệnh hại rễ (gây vàng lá thối rễ):
Khi phát hiện vườn bị bệnh cần tiến hành làm sạch cỏ và dọn sạch cỏ rác xung quanh tán lá, sau đó dùng cuốc răng cào xới nhẹ lớp đóng váng bề mặt đất dưới tán lá vùng rễ cây (không đào rễ) để phá váng bề mặt đất (xới sâu 5-15 cm) tạo thoáng khí cho lớp đất bề mặt quanh tán lá. Xới cách gốc 1m-1,5m đối với cây lớn 8-10 năm tuổi và điều chỉnh khoảng cách cho phù hợp tùy vào đường kính tán lá. Sau đó khẩn trương tiến hành xử lý thuốc trừ bệnh (3 lần), theo các bước sau:
+ Xử lý lần 1: Tưới gốc: Sử dụng Phosphorous acid (Agri-Fos 400) + Metalaxyl-M + Mancozeb (Ridomil Gold 68 WG), pha theo khuyến cáo trên bao bì để tưới gốc 40-50 lít/cây từ 8-9 năm tuổi. Đồng thời, phun xịt toàn bộ thân, cành, Lá và xịt tại gốc cây (10 lít/cây 8-10 năm tuổi). Cần thực hiện ngay sau khi vệ sinh vườn mới có hiệu quả.
+ Xử lý lần 2: Sau xử lý thuốc lần 1 từ 5-7 ngày, sử dụng thuốc có hoạt chất Fosetyl Aluminium (Aliette 800WG) pha theo khuyến cáo bao bì để tưới gốc và phun phủ toàn bộ tản lá (tùy diện tích tán lá sầu riêng lớn hay nhỏ để quyết định dung dịch thuốc phun/cây như trên).
+ Xử lý lần 3: Sau xử lý thuốc lần 2 từ 5-7 ngày, kết hợp tưới gốc chất tạo rễ Roots 2, axit Humic loãng 250g/phuy 200 lít, kết hợp nấm cộng sinh rễ (Rhizomy,...), các loài nấm Tricoderma (Tricoô-ĐHCT, Tricoderma spp)... hoặc các chất giàu Lân (K Humat, axit fulvic, hydrophos Zn+...).
Lưu ý: Một là môi giới truyền bệnh xì mủ, vàng lá thối rễ từ cây bệnh sang cây khỏe. Do đó, phải chú ý kết hợp phòng trừ một để hạn chế lây lan.
3.3 Kiểm soát mọt đục thân – cành (rất quan trọng)
Đặc điểm gây hại của mọt đục thân, cành là: Có lỗ đục trên thân/cành, có mạt gỗ đùn ra vỏ hoặc rơi xuống gốc, cành khô dần từ ngọn xuống. Vết đục của một còn là vết thương hở làm đường dẫn cho các loài nấm như Phytopthora spp, Fusarium Solani ... xâm nhập và gây bệnh xì mủ, thối thân, chết khô nhánh... Sâu đục thân di chuyển là môi giới truyền bệnh từ cây bệnh sang cây khoẻ.
Biện pháp phòng trừ: Dùng dao cạo sạch phần vỏ bị mọt đục chuyển màu và dùng thuốc để quyét lên vết mọt đục. Sau đó pha thuốc phun phủ toàn vườn (phun kỹ vào phần thân, cành). Sử dụng các loại thuốc có hoạt chất Thiamethoxam (Thiamax 25WDG, Vithoxam 350SC), Carbosulfan (Marshal 200SC), Spirotetramat (Movento 150OD), Flubendiamide (Takumi 20SC). Liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản suất. Tốt nhất có thể sử dụng sau các lần xử lý thuốc bệnh từ 1-2 ngày để nâng cao hiệu lực các thuốc sử dụng.
III. Để nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc bảo vệ thực vật:
Sử dụng thuốc BVTV theo phương pháp “4 đúng” (Đúng thuốc; Đúng lúc; Đúng nồng độ - liều lượng; Đúng cách). Thuốc có trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng.
- Trong mùa mưa nên pha các chất loang chảy, bám dính trong các lần phun để nâng cao hiệu quả của thuốc.
- Đối với tưới thuốc, tùy vào tuổi cây mà tưới lượng thuốc cho phù hợp: cây đường kính tán 4-5m tưới 30 lít hỗn hợp thuốc đã pha/gốc; đường kính tán từ 6-7m tưới 40-50 lít hỗn hợp thuốc đã pha trên một gốc.
Trên đây là hướng dẫn phòng trừ bệnh xì mủ, vàng lá thối rễ hại sầu riêng, mong bà con nông dân tích cực chăm sóc áp dụng đúng kỹ thuật./.